This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thực phẩm tốt cho răng miệng

Để có hàm răng chắc khỏe luôn sáng bóng ngoài thường xuyên vệ sinh răng miệng đúng cách và khám răng định kỳ thì có thể chú ý đến các thực phẩm sau.

Lá bạc hà: Đây là loại cây quen thuộc nhất là ở vùng cao. Theo nghiên cứu cho thấy tinh dầu bạc hà có tác dụng rất tốt đối với sức khỏe có thể áp dụng chữa nhiều bệnh. Thành phần chủ yếu của bạc hà là methol, nên methol kích thích dây thần kinh nhận biết cảm giác lạnh, tạo cảm giác mát lạnh, ức chế những phản ứng kích thích đau đớn, tạm thời làm giảm cơn đau của cơ bắp hoặc các cơ quan khác. Miệng cũng chứa một số dây thần kinh loại này. Cảm giác mát lạnh này không kéo dài nhưng cũng có thể làm giảm đau một cách kỳ diệu. Do vậy, sau khi ăn cơm nhất là các thức ăn: cá hoặc thịt, tỏi, hành xong, uống một cốc trà bạc hà không cho đường hoặc có thể nhai vài lá bạc hà cũng có thể làm giảm bớt sự sinh sôi nảy nở của vi khuẩn trong khoang miệng giúp răng chắc khỏe.

Lá bạc hà

Rau cần tây: Rau cần tây là loại rau có nhiều chất xơ và có tinh dầu thơm nên được sử dụng là gia vị trong các món xào. Loại rau này giúp làm sạch răng và đồng tác dụng massage nướu của bạn, tăng sự lưu thông. Rau cần tây còn nhanh chóng loại bỏ vi khuẩn có thể gây sâu răng và đánh bay các mảng bám trên răng.

Cần tây

Khi bạn nhai rau cần chính là lúc răng của bạn đang được quét dọn sạch sẽ. Vì thế, rau cần, giúp giảm bớt được nguy cơ sâu răng. Ngoài ra bạn càng nhai kỹ thì càng kích thích nước bọt tiết ra, cân bằng lượng axit và kiềm trong khoang miệng, đạt được hiệu quả kháng khuẩn tự nhiên.

Trà xanh: Các chuyên gia của Đại học Kyushu (Nhật Bản) đã rút ra kết luận trên sau khi nghiên cứu và phân tích tình trạng nướu răng của 940 đàn ông từ 49 đến 59 tuổi, kết quả cho thấy với mỗi tách trà xanh hằng ngày, cả 3 chỉ số có liên quan đến tình trạng bệnh nha chu đều giảm hẳn. Các nhà khoa học cho rằng khả năng giảm các triệu chứng nha chu có thể là do sự hiện diện của chống ôxy hóa catechin có nhiều trong trà xanh. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy catechins trong trà xanh có thể làm giảm bớt khuẩn cầu chuỗi biến hình gây nên bệnh sâu răng trong khoang miệng, đồng thời cũng có thể khử được mùi hôi của răng miệng. Do vậy, sau khi ăn đồ ngọt nên uống trà xanh giúp răng miệng sạch rằng thơm. Tuy nhiên, phụ nữ có thai và một số bệnh nhân mạn tính cần hạn chế dùng.

Hành tây

Hành tây: Đây là loại củ được chế biến thành nhiều món khác nhau trong bữa ăn hàng ngày như xào, làm nộm với vị hăng và hoạt chất allium từ hành tây rất tốt cho răng. Alium không màu, sẽ không gây mảng bám trên bề mặt răng của bạn. Ăn hành tây có tác động đến răng của bạn tương tự như bạn vừa đánh răng, làm cho răng của bạn sáng bóng dần lên. Ngoài ra, trong hành tây hỗn hợp lưu hóa là thành phần kháng khuẩn rất mạnh, thí nghiệm cho thấy, hành tây có thể giết chết rất nhiều vi khuẩn, trong đó bao gồm khuẩn chuỗi cầu biến hình gây bệnh sâu răng.

Bác sĩ Nguyễn Văn Sơn

Sạch răng thơm miệng qua ăn uốngSạch răng thơm miệng qua ăn uống5 mẹo nhỏ chăm sóc sức khoẻ răng miệng5 mẹo nhỏ chăm sóc sức khoẻ răng miệngPhòng bệnh răng miệng ở phụ nữ mang thaiPhòng bệnh răng miệng ở phụ nữ mang thai

Bổ sung hệ dưỡng chất cho trẻ trong những năm đầu đời

Khoa học đã chứng minh dinh dưỡng đầy đủ và giáo dục khoa học là hai yếu tố quyết định sự phát triển vượt trội của trẻ trong những năm đầu đời. Vậy chế độ dinh dưỡng nào có thể mang lại cho trẻ nền tảng tốt nhất? Chúng tôi đã trao đổi với chuyên gia Nguyễn Anh Tuấn để giải đáp những thắc mắc của mẹ và khám phá những kiến thức dinh dưỡng giúp trẻ phát huy hết tiềm năng trí tuệ.

Bổ sung hệ dưỡng chất cho trẻ trong những năm đầu đời 1
Mẹ cần bổ sung cho trẻ hệ dưỡng chất khoa học cho sự phát triển của trẻ trong 3 năm đầu đời

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ nhỏ, nhưng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ không như người lớn. Xin chuyên gia hãy cho biết những dưỡng chất nào mẹ cần tập trung bổ sung để trẻ phát triển khỏe mạnh ?

CG: Những thiếu hụt về dinh dưỡng sẽ kéo theo những khiếm khuyết của hệ thần kinh hoặc làm giảm khả năng nhận thức, sự khéo léo cũng như trí thông minh của trẻ.Chúng ta cần nhớ rằng trẻ cần cả một hệ dưỡng chất được kết hợp khoa học để phát triển tối ưu và toàn diện chứ không chỉ là những dưỡng chất riêng lẻ. Các dưỡng chất trong hệ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong từng giai đoạn phát triển mà còn hỗ trợ cho nhau để quá trình phát triển được đồng bộ và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ lại chỉ chú trọng bổ sung cho trẻ một vài dưỡng chất, như vậy sẽ không đảm bào nhu cầu của trẻ. Các dưỡng chất trong hệ có thể kể ra như DHA, AA, Omega 3, 6, Iod, Sắt, Kẽm, Taurinvà Cholin. Mẹ lưu ý bổ sung thêm Lutein giúp bảo vệ võng mạc và tăng cường sức khỏe mắt, phát triển thị giác và giúp trẻ tăng khả năng nhận thức, học hỏi và ghi nhớ.

Bác sĩ có nhắc đến Lutein. Xin bác sĩ hãy nói thêm về dưỡng chất này.

CG: Lutein là hợp chất Carotenoid tồn tại nhiều nhất trong điểm vàng của mắt. Lutein còn được thấy trong huyết tương, gan và não. Theo báo cáo nghiên cứu gần đây của PGS. TS. Elizabeth, Lutein hiện diện tại 4 vùng vỏ não…..và tỉ lệ hiện diện của Lutein tại não trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ chiếm đến 59% tổng số các carotenoid. Vì vậy, Lutein không chỉ giúp trẻ có đôi mắt sáng, khỏe mạnh mà nhiều khả năng còn có tác động tích cực đến các chức năng nhận thức, học hỏi và ghi nhớ của trẻ. Lutein là dưỡng chất cơ thể người không tự tổng hợp được mà cần phải bổ sung từ thực phẩm hàng ngày. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể nhận Lutein qua sữa mẹ hoặc thức ăn dặm khi lớn lên. Khi bé có thể ăn dặm, mẹ nên chú ý bổ sung rau củ quả có chứa Lutein trong khẩu phần ăn, như rau có màu xanh đậm (bó xôi, cải, xúp lơ xanh…), các loại củ quả như bắp ngô or bí ngô ?, ớt chuông đỏ, cà rốt, quả bơ, quả kiwi, hay lòng đỏ trứng gà.

Ngoài ra, việc thiết kế các bữa ăn cho trẻ có đầy đủ các dưỡng chất trong hệ quả là gian nan đối với các bà mẹ, đặc biệt là với khoảng thời gian vô cùng hạn hẹp của các mẹ. Như vậy, ngoài thực phẩm, bác sĩ có thể cho biết còn có sản phẩm nào giúp trẻ bổ sung đầy đủ các chất trong hệ dưỡng chất ?

CG : Việc thay đổi các thực phẩm hàng ngày đa dạng và phong phú, cũng như cách chế biến trình bày món ăn hấp dẫn hơn, nhiều màu sắc hơn hay đựng trong dĩa/chén mà bé thích cũng giúp kích thích bé ăn. Tốt nhất là không nên ép bé ăn mà khuyến khích trẻ một cách nhẹ nhàng, như vậy khi bé ăn, cơ thể sẽ hấp thu dưỡng chất tốt hơn. Bên cạnh đó, với những trẻ biến ăn hoặc kén ăn, mẹ có thể tìm đến những thực phẩm thay thế như bột hay sữa công thức hoặc thực phẩm dinh dưỡng.

Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện cả thể chất và trí tuệ. Các bà mẹ cần tìm hiểu kỹ các thành phần dinh dưỡng khi chọn mua sản phẩm để đảm bảo trẻ được cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết. Trên thị trường, hiện có dòng sản phẩm Gain Plus và Gain Kid là sản phẩm bổ sung hệ dưỡng chất duy nhất có chứa Lutein.

 

Bổ sung hệ dưỡng chất cho trẻ trong những năm đầu đời 2

Nuôi dưỡng trí tuệ của bé, mẹ cần cho bé nhiều hơn 1 dưỡng chất đơn lẻ

Gain plus với hệ dưỡng chất IQ plus (icon) cung cấp cho con không chỉ DHA mà còn nhiều dưỡng chất thiết yếu khác bao gồm AA, Omega 3 &6, Taurine, Choline, Sắt, Kẽm, Acid Folic, Iot, đặc biệt với Lutein và phospholipid

Mẹ chọn Gain Plus IQ (icon) cho con khôn lớn mỗi ngày

Thiếu máu dinh dưỡng và cách khắc phục

Thiếu máu dinh dưỡng là thiếu máu do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần cho quá trình tạo máu như sắt, đồng, vitamin B12, acid folic... nhưng phổ biến nhất là thiếu máu, thiếu sắt. Hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn và ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng, phát triển tâm vận động, khả năng học tập, trí thông minh của trẻ. Phụ nữ có thai bị thiếu máu có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoàn thiện của não và phát triển thai nhi.

Đánh giá tình trạng thiếu máu thì dựa vào hàm lượng Hemoglobin (Hb). Khi Hb ở dưới ngưỡng giới hạn được coi là thiếu máu.

Ngưỡng giới hạn của hàm lượng Hb theo từng đối tượng. (xem bảng)

Mức độ thiếu máu: Thiếu máu nặng Hb < 70g/l; Thiếu máu vừa Hb70 - < 100g/l; Thiếu máu nhẹ Hb 100 - < 120g/l.

Thiếu máu thiếu sắt: Sắt trong cơ thể của mỗi người phụ thuộc vào lượng sắt trong chế độ ăn, khả năng hấp thu, dự trữ và thải trừ.

Nguồn cung cấp sắt có giá trị sinh học cao chủ yếu từ thức ăn nguồn động vật nhất là các loại thịt, gan, cá... Sắt từ nguồn thức ăn thực vật như ngũ cốc đậu đỗ, rau quả... thì giá trị sinh học thấp, hấp thu kém hơn... Vitamin C có tác dụng tăng cường hấp thu sắt, ngược lại các chất phytat, photphat, canxi (có trong ngũ cốc) và polyphenol (có trong trà và một số loại rau) làm giảm hấp thu sắt.

Bác sĩ dinh dưỡng hướng dẫn chế biến bột ăn dặm cho bà mẹ nuôi con nhỏ.

Bác sĩ dinh dưỡng hướng dẫn chế biến bột ăn dặm cho bà mẹ nuôi con nhỏ.

Các đối tượng có nguy cơ thiếu máu, thiếu sắt: Phụ nữ tuổi sinh đẻ thường bị mất sắt theo chu kỳ kinh nguyệt; Phụ nữ có thai dễ bị thiếu máu, thiếu sắt do nhu cầu cao hơn bình thường để tăng khối lượng máu cho người mẹ và phát triển thai nhi nhưng lượng sắt dự trữ không đáp ứng đủ nhu cầu; Con của các bà mẹ bị thiếu máu trong thời kỳ thai nghén; Trẻ đẻ thấp cân, đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai; Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ ăn bổ sung quá sớm; Trẻ lớn nhanh trong những năm đầu đời và ở tuổi dậy thì; Trẻ mắc các bệnh về đường tiêu hóa (tiêu chảy kéo dài, viêm loét dạ dày tá tràng, giun sán, sốt rét...).

Biểu hiện của bệnh tùy theo mức độ thiếu máu nhẹ, vừa, hoặc nặng. Trẻ thường mệt mỏi, kém ăn, chậm lớn, da xanh, niêm mạc nhợt, lòng bàn tay bàn chân, móng tay, móng chân cũng nhợt nhạt. Nhịp tim nhanh, khó thở khi gắng sức. Trẻ học kém tập trung, hay ngủ gật, chỉ số thông minh thấp. Ở phụ nữ có thai thường biểu hiện hoa mắt chóng mặt, nhức đầu, tim đập nhanh. Phụ nữ tuổi sinh đẻ thì kinh nguyệt không đều. Điều trị chủ yếu là bổ sung sắt kết hợp acid folic.

Thiếu máu do thiếu acid folic: Acid folic còn gọi là folat (vitamin B9) có chức năng cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào của người, động vật, thực vật, vi khuẩn và sự hình thành tế bào máu.

Folat có mặt trong tất cả các thực phẩm, có nhiều trong các loại rau quả, rau lá màu xanh thẫm, cải xoăn, cam, lê, dưa hấu... và thức ăn như thịt gan trứng cá, đậu đỗ lạc... Tuy nhiên, trong quá trình nấu nướng tỷ lệ hao hụt rất cao từ 50-90%, thậm chí 100% khi nấu ở nhiệt độ cao nhiều nước.

Nguyên nhân thiếu hụt folat là do không cung cấp đủ trong khẩu phần ăn hoặc do tình trạng kém hấp thu nhất là khi các bệnh về đường tiêu hóa hoặc do nhu cầu tăng ở trẻ đẻ non, sốt rét, thiếu máu, tan máu và ảnh hưởng của một số thuốc như thuốc chống co giật, chống động kinh, chống ung thư, các thuốc làm giảm độ acid trong dạ dày đều làm tăng nhu cầu và sử dụng folat.

Thiếu folat trẻ thường mệt mỏi chán ăn, nôn, tiêu chảy, viêm miệng lưỡi, run chân tay, trương lực cơ tăng. Phụ nữ có thai trong những tháng đầu của thai kỳ thiếu folat có thể gây dị tật ống thần kinh cho thai nhi (nứt cột sống, vô sọ, thoát vị não). Đặc điểm của thiếu máu do thiếu acid folic là thiếu máu hồng cầu to, hồng cầu không đều. Điều trị chủ yếu là uống acid folic có thể kết hợp với sắt.

Thiếu máu do thiếu vitamin B12: vitamin B12 tham gia vào quá trình tổng hợp AND, sự phát triển và phân chia tế bào và quá trình myelin hóa sợi thần kinh. Thiếu vitamin B12 sẽ làm chậm quá trình phân chia tế bào ở tổ chức tạo máu gây thiếu máu và một số triệu chứng thần kinh. Vitamin B12 chỉ có trong thức ăn nguồn động vật. Khi chế biến nấu chín thì tỷ lệ hao hụt chiếm trên 50%.

Nguyên nhân thiếu vitamin B12 chủ yếu là do bị các bệnh về đường tiêu hóa (dạ dày ruột) gây kém hấp thu và chế độ ăn thiếu thức ăn nguồn động vật kéo dài, những người ăn chay hoàn toàn. Do vậy, những trẻ sinh ra từ những bà mẹ ăn chay có thể thiếu vitamin B12 từ những năm đầu đời do không có dự trữ B12. Ngoài ra có thể xuất hiện một số dấu hiệu rối loạn dẫn truyền thần kinh (rối loạn cảm giác, đi lảo đảo...) Đặc điểm của thiếu máu do thiếu vitamin B12 cũng giống như thiếu folat, thiếu máu hồng cầu to. Điều trị chủ yếu là tiêm bắp vitamin B12 liều cao.

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng:

Dinh dưỡng hợp lý: thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ ăn bổ sung từ 6 tháng tuổi trở lên. Thức ăn bổ sung có đủ 4 nhóm thực phẩm (tinh bột, đạm, béo, vitamin và khoáng chất); Cần đa dạng hóa bữa ăn, sử dụng thực phẩm tăng cường sắt (nước mắm, bột dinh dưỡng...) hiện có trên thị trường; Điều trị sớm các bệnh nhiễm khuẩn nhất là các bệnh về đường tiêu hóa; Tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần đối với phụ nữ và trẻ em trên 2 tuổi; Bổ sung viên sắt, acid folic: phụ nữ có thai uống 60mg sắt nguyên tố + 400mcg acid folic/ngày. Uống từ khi có thai đến sau đẻ một tháng; Phụ nữ không có thai uống 60mg sắt nguyên tố + 400mcg acid folic/tuần. Uống liên tục trong vòng 16 tuần và nên uống vào ngày nhất định; Trẻ sơ sinh nhẹ cân, đẻ non dự phòng thiếu máu bằng các chế phẩm sắt dạng dung dịch với liều lượng sắt nguyên tố 2mg/kg/ngày.

PGS. BS. Đào Ngọc Diễn

Ngất ngây với 3 món ốc xào cho chị emNgất ngây với 3 món ốc xào cho chị em9 mẹo giảm cân nhanh chóng chỉ trong một tháng9 mẹo giảm cân nhanh chóng chỉ trong một thángLuộc rau ngon cũng cần bí kípLuộc rau ngon cũng cần "bí kíp"

9 siêu thực phẩm tăng cường hệ miễn dịch

1. Sữa chua

Probiotics (vi khuẩn có lợi) được tìm thấy trong sữa chua rất hữu ích trong việc giúp đường ruột và hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh, hoạt động hiệu quả.

Mặc dù bạn có thể bổ sung probiotics dưới dạng thuốc bổ sung nhưng theo một nghiên cứu của Đại học Vienna tại Áo cho thấy, nếu ăn khoảng 200ml sữa chua mỗi ngày, hệ thống miễn dịch sẽ được tăng cường nhiều hơn so với khi bạn uống thuốc bổ sung.

Ngoài ra, axít lactic trong sữa chua còn có tác dụng ngăn ngừa sự xâm nhập và kiềm chế hoạt động của các loại vi khuẩn có hại cho da.

2. Yến mạch và lúa mạch

Theo một nghiên cứu tại Na Uy cho thấy, những loại ngũ cốc này có chứa beta-glucan, một loại chất xơ có khả năng kháng khuẩn và chất chống oxy hóa mạnh hơn cây cúc dại.

Khi động vật ăn hợp chất này, chúng ít có khả năng bị cúm, herpes, thậm chí bệnh than; với người, khi tiêu thụ nó làm tăng khả năng miễn dịch, đẩy nhanh tốc độ chữa lành vết thương và có thể giúp thuốc kháng sinh làm việc hiệu quả hơn.

3. Tỏi

Tỏi chứa allicin, một hợp chất chống lại nhiễm trùng và vi khuẩn. Các nhà nghiên cứu Anh đã tiến hành một khảo sát với 146 người dân, họ sẽ dùng giả dược hoặc chiết xuất tỏi trong 12 tuần; kết quả cho thấy những người ăn tỏi giảm hơn 30% nguy cơ bị cảm lạnh.

Các nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng những người ăn khoảng 6 tép một tuần giảm 30% các bệnh ung thư đại trực tràng và hơn 50% nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày.

4. Động vật có vỏ

Selenium là thành phần chứa trong các động vật có vỏ như hàu, tôm hùm, cua và nghêu, giúp các tế bào máu trắng sản xuất cytokine – một loại protein giúp vi-rút cúm bị đào thải ra khỏi cơ thể. Cá hồi, cá thu, cá trích rất giàu axít béo omega-3 có tác dụng giảm viêm, tăng luồng không khí và bảo vệ phổi khỏi cảm lạnh và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.

5. Súp gà

Súp gà giúp giảm chất nhầy giống như tác dụng của các loại thuốc ho (Ảnh minh họa: Internet)

Các axít amin cysteine được sản sinh từ thịt gà trong khi nấu súp, một chất hóa học tương tự như thuốc viêm phế quản acetylcystein, trong đó có thể ngăn chặn sự lây lan của tình trạng viêm tế bào, giảm các triệu chứng của cảm lạnh.

Đồng thời, nó cũng giúp giảm chất nhầy giống như tác dụng của các loại thuốc ho. Việc thêm các loại gia vị vào súp chẳng hạn như tỏi và hành tây có thể làm tăng cường thêm khả năng miễn dịch của cơ thể.

6. Trà

Những người uống 5 cốc trà đen mỗi ngày trong 2 tuần đã có gấp 10 lần interferon (những cytokin xuất hiện tự nhiên có các đặc tính vừa chống vi-rút vừa chống tăng sinh) trong máu của họ so với những người uống giả dược, một nghiên cứu tại ĐH Harvard, Mỹ cho thấy.

Axít amin L-theanine có trách nhiệm thúc đẩy hệ thống miễn dịch, chúng chứa trong cả hai loại trà, trà đen và trà xanh, đồng thời ngăn ngừa lão hóa hiệu quả.

7. Thịt bò

Thiếu kẽm là một trong những sự thiếu hụt dinh dưỡng phổ biến nhất ở người Mỹ trưởng thành, đặc biệt là những người ăn chay và những người đã cắt giảm thịt bò, một nguồn chính của khoáng chất giúp tăng khả năng miễn dịch.

Tình trạng thiếu kẽm nhẹ có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, giảm sự sản xuất của các tế bào máu trắng – một yếu tố quyết định đến hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn có hại và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Bởi vậy, hãy bổ sung thịt bò vào chế độ ăn uống hàng ngày với khoảng 60g/ngày. Ngoài ra, bạn hãy bổ sung thêm những nguồn thực phẩm giàu kẽm khác như hàu, ngũ cốc, thịt gia cầm, sữa chua, hoặc sữa…

8. Khoai lang

Khoai lang giúp bổ sung vitamin A (Ảnh minh họa: Internet)

Da như một tấm lá chắn giúp bạn chống lại vi khuẩn, vi-rút và các yếu tố có hại từ bên ngoài. Để luôn khỏe mạnh, làn da của bạn cần vitamin A.

Vitamin A đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất các mô liên kết, một thành phần quan trọng của da. Một trong những cách tốt nhất để bổ sung vitamin A vào chế độ ăn uống của bạn là từ các loại thực phẩm có chứa beta-carotene (khoai lang, cà rốt, bí ngô, dưa đỏ…), mà cơ thể sẽ chuyển hóa chúng thành vitamin A.

9. Nấm

Trong nhiều thế kỷ, người dân trên khắp thế giới đã coi nấm như một siêu thực phẩm giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, chống lại bệnh tật. Và cho tới ngày nay nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã chứng minh điều này. Tiêu thụ nấm sẽ làm tăng sản xuất và hoạt động của các tế bào máu trắng, làm cho chúng hoạt động tích cực hơn, từ đó bảo vệ cơ thể, chống viêm, chống vi-rút xâm nhập.

An An (Prevention)

Những loại thực phẩm “đe dọa” bé vào tuổi ăn dặm

Những loại thực phẩm “đe dọa” bé vào tuổi ăn dặm 1Ảnh minh họa. (Nguồn: Đẹp/Vietnam+).
Bé yêu của bạn đã đến tuổi ăn dặm nhưng càng háo hức được đưa bé đến với thế giới ẩm thực phong phú bao nhiêu, bạn càng phải cẩn thận bấy nhiêu.
Trái cây ép
Dừng lại nếu bạn muốn cho bé dưới 6 tháng tuổi uống nước trái cây. Nước ép chứa nhiều đường và mất đi nhiều chất dinh dưỡng khác (chỉ có trong trái cây nguyên vẹn). Mặc dù trái cây họ chanh như cam, quýt, bưởi… dồi dào vitamin C nhưng cũng chứa nhiều axit gây khó chịu cho hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện của bé.Hải sản có vỏ
Các loại hải sản có vỏ như tôm, cua, sò, ốc… là thực phẩm dễ gây dị ứng, vì vậy, các bác sỹ đặc biệt khuyên bạn chỉ nên cho bé ăn sau năm đầu đời. Trước khi cho bé ăn, bạn nên hỏi ý kiến bác sỹ cũng như tìm hiểu xem trong gia đình có ai bị dị ứng với hải sản không.Trứng
Đây là món ăn dễ làm và dễ ăn nhất. Trứng chứa nguồn protein, vitamin D và chất khoáng dồi dào. Thế nhưng, theo các bác sỹ nhi khoa, trứng được xếp vào danh sách những món ăn dễ gây dị ứng. Nếu muốn, bạn chỉ có thể cho bé ăn lòng đỏ trứng khi bé đã trên 7 tháng tuổi.Mật ong
Dùng mật ong trong năm đầu tiên có thể khiến bé gặp rắc rối. Mật ong chứa lượng đường rất lớn và chứa bào tử của Clostridium botulinum có thể gây ngộ độc, táo bón, hôn mê.Dâu
Những trái dâu ngọt ngào, giàu vitamin nên được thêm vào thực đơn của gia đình, nhưng không phải của bé. Dâu không chỉ chứa nhiều axit ảnh hưởng rất lớn đến bao tử bé mà còn có thể gây kích ứng như nổi sảy.Sữa hộp
Khi bé lớn hơn một chút thì sữa hộp rất tốt cho sự phát triển cơ thể. Nhưng bé dưới một tuổi nên tránh xa chúng bởi nhiều lý do: bé chưa đủ khả năng để tiêu hóa sữa hộp và lượng protein, chất khoáng trong sữa gây ảnh hưởng đến thận, bảo tử và ruột bé. Kể cả khi bé lên một cũng chỉ được uống sữa hộp trong mức vừa phải. Và đừng quên phải kiểm tra xem bé yêu có bị dị ứng với nó không đấy nhé./.

Theo

Đẹp/Vietnam+

Gạo trắng: nguyên nhân gia tăng số bệnh nhân đái tháo đường

Chiều 15-8, tại Hà Nội, Viện Dinh dưỡng quốc gia, Bộ Y tế đã phối hợp với Viện Nghiên cứu FANCL (Nhật Bản) tổ chức hội thảo cập nhật một số giải pháp về dinh dưỡng phòng chống bệnh đái tháo đường và ký kết chương trình hợp tác nghiên cứu về dinh dưỡng giữa hai viện.

Phát biểu tại hội thảo, TS. Trương Đình Bắc, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng nêu rõ, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt với gánh nặng ngày càng gia tăng của các bệnh không lây nhiễm, chủ yếu là tim mạch, ung thư và đái tháo đường. Đặc biệt, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất thế giới. Qua các điều tra của ngành Y tế cho thấy năm 2012, tỷ lệ rối loạn dung nạp đường huyết lứa tuổi 30-69 là 12,%, tỷ lệ ĐTĐ lứa tuổi 30-69 là 5,7% tăng gấp đôi so với kết quả điều tra năm 2002. Trong khi đó theo số liệu của Quỹ đái tháo đường quốc tế (IDF), ước tính năm 2013, Việt Nam có khoảng 3,3 triệu người mắc và trên 50.000 ca tử vong có liên quan tới bệnh ĐTĐ và nằm trong 5 nước có số mắc bệnh cao nhất khu vực Tây Thái Bình Dương. Đáng lo ngại, ĐTĐ cũng là bệnh gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: biến chứng về mắt, tim mạch, thần kinh và suy thận.

 

Lễ ký kết giữa Viện trưởng Viện Dinh dưỡng với Viện trưởng Viện Nghiên cứu FANCL

Lễ ký kết giữa Viện trưởng Viện Dinh dưỡng với Viện trưởng Viện Nghiên cứu FANCL

 

Trước thực trạng đáng báo động về sự gia tăng của bệnh ĐTĐ, GS. Shigeru Yamamoto, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và văn hóa ẩm thực châu Á, Đại học Jumoji, Tokyo, Nhật Bản cho biết: Qua các nghiên cứu cho thấy chế độ dinh dưỡng của người châu Á, cũng như người Việt Nam do thói quen ăn gạo trắng là nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người châu Á và Việt Nam cao hơn và dễ mắc hơn. “Chế độ ăn giàu chất đường bột của người Việt Nam (chủ yếu là gạo trắng) là nguyên nhân chính dẫn đến người Việt Nam bị ĐTĐ ở BMI (chỉ số cân nặng cơ thể) bình thường chứ không phải yếu tố di truyền. Vì thế cần phải giảm lượng sử dụng gạo trắng và tăng cường sử dụng dầu thực vật và dầu cá để hạn chế nguy cơ mắc ĐTĐ...”- GS. Shigeru Yamamoto nhấn mạnh. Còn TS. Yasushi Sumida, Viện trưởng Viện nghiên cứu FANCL nêu rõ, những nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy việc sử dụng gạo lật nảy mầm thay thế gạo trắng, hoặc kết hợp thay thế một phần gạo trắng bằng gạo lật nảy mầm trong dinh dưỡng sẽ giúp ngăn ngừa và kiểm soát bệnh ĐTĐ cho người châu Á và Việt Nam tốt hơn.

Trong khi đó, về phía Viện Dinh dưỡng, TS Bùi Thị Nhung- Trưởng khoa Dinh dưỡng học đường và Ngành nghề cho biết, qua các nghiên cứu: Gạo trắng là thực phẩm chính trong khẩu phần ăn của người Việt, với khoảng 70% năng lượng từ chất đường làm tăng mức độ đáp ứng đường máu ở Việt Nam trong độ tuổi từ 60-65, khiến nguy cơ bệnh ĐTĐ tăng cao. Với việc sử dụng gạo lứt, gạo lật nảy mầm sẽ làm giảm mức độ đáp ứng đường máu sau ăn hơn so với gạo trắng. Hơn nữa, gạo lứt, gạo lật nảy mầm còn có giá trị dinh dưỡng cao hơn gạo trắng và có tác dụng giảm béo phì và tăng cường sức khỏe cho phụ nữ đang cho con bú./

V.A

 

Đái tháo đường týp 2 và những biến chứngĐái tháo đường týp 2 và những biến chứngTổn thương xương bàn chân ở người đái tháo đườngTổn thương xương bàn chân ở người đái tháo đườngCác bệnh ở mắt do đái tháo đườngCác bệnh ở mắt do đái tháo đường

 

Ăn nhiều đồ nướng: Nguy hiểm!

Những ngày trời lạnh, nhóm bạn tôi rất thích đi ăn thịt nướng. Xin hỏi bác sĩ, ăn nhiều thịt, cá nướng có nguy hiểm gì không?

Đinh Tiến Bình(Hà Nội)

Thịt, cá nướng là những món ăn thơm ngon khoái khẩu của nhiều người. Tuy nhiên nếu thường xuyên ăn món nướng nghĩa là ăn nhiều thì có những điều bất ổn. Đến nay nhiều nghiên cứu cho thấy: thịt hay cá nướng trên than ở nhiệt độ 500-600oC, mỡ nhỏ giọt xuống than hồng bốc cháy tạo ra các phân tử hydrocarbure thơm đa vòng (AHA) có thể gây ung thư. Trường hợp nướng thịt cá trong lò nướng ở nhiệt độ 80-100oC, thì chất creatin hay creatinin trong thịt cá sẽ biến đổi thành amin thơm dị vòng.

Ảnh minh họa (nguồn Internet).
Chất này khi ăn vào cơ thể sẽ đến gan và biến thành chất độc, từ đây chất độc đó xuống ruột, gây nguy cơ ung thư ruột già. Mặt khác các chất tiết ra ở nước thịt, nước cá dính vào lò nướng rất dễ chuyển thành AHA. Ở nhiệt độ trên 200oC, nhiều loại AHA khác cũng có thể được hình thành do sự phân hủy các axít amin. Các AHA này bám ở những chỗ thịt cá bị cháy. Do đó, để tránh nguy hiểm, chúng ta không nên ăn chỗ thịt cá bị cháy.

Như vậy nếu ăn nhiều đồ nướng thì có nhiều nguy cơ mắc bệnh. Vậy bạn chỉ nên thỉnh thoảng hãy đổi khẩu vị một lần thôi.

BS. Ninh Hồng